Go Back   Diễn đàn Sinh học Việt Nam > Giảng đường > Di truyền - Sinh học phân tử

Di truyền - Sinh học phân tử Do hai bộ môn này khá gần nhau nên chúng được nhập chung vào một diễn đàn

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Old 10-10-17, 07:43   #31
ChimEnMuaDong
Thành viên
 
ChimEnMuaDong's Avatar
 
Tham gia ngày: Nov 2012
Bài gửi: 18
Thanks: 2
Thanked 1 Time in 1 Post
Người Do Thái Ashkenazi hậu duệ của 350 người

Sự chọn lọc tự nhiên đã xảy ra với dân tộc Ashkenazi Do Thái từ 600 đến 800 năm trước, các nhà di truyền học đã phân tích gen của người Do Thái Ashkenazi và kết quả cho thấy mỗi người Do Thái Ashkenazi là anh em họ đời thứ 30 của nhau.

Nghiên cứu được đăng trên nhật báo thứ ba của tờ báo Nature Communications, tác giả là Shai Carmi giáo sư khoa học máy tính tại Đại học Columbia và hơn 20 nhà nghiên cứu y khoa từ những Đại Học sau đây Yale, Columbia, Yeshiva University’s Albert Einstein College of Medicine, Memorial Sloan-Kettering Cancer Center, Hebrew University of Jerusalem và những viện hàm lâm khác.

Các nhà nghiên cứu đã phân tích bộ gen của 128 người Do Thái Ashkenazi và so sánh chúng với Dân Ngoại goyim để xác định gen di truyền nào là độc nhất đối với người Ashkenazi Do Thái. Họ phát hiện ra rằng sự tương đồng về gien di truyền của người Do Thái Ashkenazi rất nghiêm trọng đến nỗi một trong những nhà nghiên cứu, giáo sư Columbia, Itsik Pe'er, nói với trang web Live Science rằng trong số những người Do Thái Ashkenazi, "tất cả bọn họ đều là anh em họ thứ 30".

Các phát hiện này cho phép các nhà nghiên cứu liệt kê gần như tất cả các biến thể di truyền từ dân số sáng lập, các tác giả của nghiên cứu cho biết. Việc biên mục các tài liệu này có thể giúp các nhà lâm sàng giải thích về các đột biến di truyền của các cá nhân, giúp cải thiện việc lập các bản đồ bệnh nan y và cung cấp cái nhìn sâu sắc về lịch sử của các dân tộc Trung Đông và những dân tộc Châu Âu.

Danh mục bộ gen người Do thái Ashkenazi hoàn chỉnh sẽ giúp xác định các đột biến gây bệnh nan y mà các tổ tiên người Ashkenazi đã qua đời.

Cho đến nay, dữ liệu chỉ có sẵn cho một tập con nhỏ các gien di truyền Ashkenazi thông thường - khoảng một trong mỗi 3.000 ký tự gien di truyền. Các phát hiện dự kiến là sẽ giúp nghiên cứu bệnh ở các nhóm dân tộc khác.

Nghiên cứu của chúng tôi là bộ dữ liệu trình tự DNA đầy đủ và đầu tiên có sẵn cho bộ gen người Do thái Ashkenazi ", Itzik Pe'er, nhà khoa học máy tính Israel tại Đại học Columbia, người đứng đầu cuộc nghiên cứu, nói. "Với danh mục các gien đột biến toàn cầu này có trong dân số người Do Thái Ashkenazi, chúng ta sẽ có thể sắp xếp các gen bệnh nan y trên bản đồ một cách hiệu quả hơn và do đó hiểu rõ hơn về các rối loạn thông thường. Chúng tôi thấy nghiên cứu này phục vụ như một phương tiện cho y học cá nhân và một mô hình cho các nhà nghiên cứu làm việc với các chủng tộc khác ".

Người Do Thái Ashkenazi được biết đến có nguồn gốc ở Levant, nơi mà Israel đang đánh đấm ở giữa vùng này. Nhưng chính xác thì người Châu Âu nào là người Do Thái Ashkenazi vẫn còn đang gây tranh cãi. Một phân tích của cơ sở dữ liệu gen cho thấy những người Do Thái thuần chủng Ashkenazi có một nửa gien người Châu Âu và một nửa gen người Trung Đông. Theo phân tích, họ sống trong thời kỳ Trung cổ, khoảng 600 đến 800 năm trước, và chỉ có khoảng 350 người.

Phân tích của chúng tôi cho thấy các nhà sáng lập thời trung cổ của dân tộc Ashkenazi Do Thái là sự kết hợp với các sắc tộc, có nguồn gốc Châu Âu và gốc gác Trung Đông, gần như bằng nhau ", Shai Carmi, một nhà khoa học hậu tiến sĩ làm việc cùng Pe'er, đã tiến hành phân tích. "Dữ liệu đã toàn diện hơn là những gì đã có trước đây và chúng tôi tin rằng dữ liệu này giải quyết các tranh chấp có liên quan đến tổ tiên của người Châu Âu và tổ tiên của người Trung Đông trong những người Do Thái Ashkenazi

Phân tích gen di truyền cũng cho thấy rằng người Châu Âu ngày nay chủ yếu đến từ những người di cư từ Trung Đông sau Thời kỳ băng hà cuối cùng, cách đây khoảng 20.000 năm, không phải từ những người đầu tiên đến lục địa cách đây khoảng 40.000 năm. Các nhà nghiên cứu hiện đang tìm kiếm nơi mà người Trung Đông và người Do Thái Châu Âu gặp nhau lần đầu tiên và ai là con cháu gần nhất của họ hiện nay.

Bởi vì cộng đồng Ashkenazi bắt đầu với dân số quá ít ỏi, và cộng đồng người Ashkenazi vẫn được cô lập về mặt di truyền, dân tộc Ashkenazi đã phát triển một lượng lớn các gen đột biến gây bệnh nan y trong gien di truyền của họ. Ngay cả ngày nay, những người Do Thái Ashkenazi được biết là có nguy cơ cao về nhiều căn bệnh nan y, bao gồm ung thư vú, ung thư buồng trứng và bệnh Tay-Sach. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều đột biến gây ra bởi gien di truyền của người Ashkenazi vẫn còn chưa được khám phá hết.

Để giải quyết vấn đề này, Pe'er và một nhóm các nhà nghiên cứu tại Hiệp hội Genome Ashkenazi (TAGC) đã thực hiện việc sắp xếp các bộ gen người Ashkenazi theo chiều sâu. Tìm thấy rằng các bộ gen có đột biến hơn 50 phần trăm so với các bản mẫu của gien người châu Âu trung bình, họ đã biên soạn một danh mục toàn diện các đột biến gen di truyền được tìm thấy trong những người Do Thái Ashkenazi.

Danh mục đã được chứng minh là có hữu ích cho các nhà cung cấp thử nghiệm để phân tích gien của phụ huynh để dự đoán xem sẽ có những căn bệnh nguy hiểm gì sẽ di truyền cho con cháu của họ trong tương lai. Họ cũng đang làm việc để sắp xếp thêm khoảng 500 bộ gen người Ashkenazi để mở rộng danh mục.

Theo Lencz, TAGC tiến bộ trong việc đưa các genomics cá nhân vào phòng khám, vì nó cho bác sĩ biết liệu có một đột biến trong bộ gen của bệnh nhân có thể tương đồng với những người khỏe mạnh khác và có thể giảm bớt lo lắng rằng nó sẽ gây ra bệnh nan y. "Nếu không có công việc của chúng tôi, trình tự bộ gen của bệnh nhân khó giải thích hơn và dễ gây ra những cảnh báo giả. Chúng tôi đã loại bỏ hai phần ba số cảnh báo giả này

Bằng cách tiết lộ thông tin gen di truyền độc đáo của người Do Thái Ashkenazi, danh mục cũng nên cho phép được xác định các gen nằm sau nhiều bệnh dịch làm cho dân chúng bị tai ương dịch bệnh. Các nhà nghiên cứu đang ngâm cứu các loại bệnh cụ thể của bệnh Ashkenazi, bao gồm bệnh tâm thần phân liệt, bệnh Parkinson, bệnh Crohn và Ung Thư, cũng như các đặc điểm khác như trường thọ sống lâu dài. Các nhà nghiên cứu hy vọng nhiều người trong số những hiểu biết y học này có liên quan đến dân số nói chung.

Dịch từ timesofisrael.com/ashkenazi-jews-descend-from-350-people-study-finds
ChimEnMuaDong is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 24-10-17, 11:08   #32
ChimEnMuaDong
Thành viên
 
ChimEnMuaDong's Avatar
 
Tham gia ngày: Nov 2012
Bài gửi: 18
Thanks: 2
Thanked 1 Time in 1 Post
Người Do Thái có nguồn gốc từ Thổ Nhĩ Kỳ Cổ Đại

Người Do Thái Ashkenazi có nguồn gốc từ người Thổ Nhĩ Kỳ Cổ Đại: Nghiên cứu mới
Nghiên cứu mới cho thấy ngôn ngữ Yiddish của người Do Thái có nguồn gốc ở đông bắc Thổ Nhĩ Kỳ

Theo một nghiên cứu mới, đa số người Do Thái hiện đại trên thế giới, cũng như ngôn ngữ Yiddish, đến từ Thổ Nhĩ Kỳ, chứ không phải là các khu vực khác ở vùng Trung Đông.

Tiến sĩ Eran Elhaik của Đại học Sheffield đã sử dụng một hệ thống máy tính mô hình hoá để chuyển đổi DNA Người Do Thái Ashkenazi - các cộng đồng Do Thái theo lịch sử nằm ở Châu Âu - số liệu của họ vào thông tin địa lý, máy tính cho thấy 90 phần trăm người Do Thái Ashkenazi có nguồn gốc từ người Hy Lạp, người Ba Tư Iran và những người khác đã thuộc địa phía bắc Anatolia (ngày nay là miền bắc Thổ Nhĩ Kỳ) cách đây hơn 2.000 năm trước khi chuyển sang đạo Do thái giáo.

Tiến sĩ Elhaik nói là ông tin rằng Ba ngôi làng Thổ Nhĩ Kỳ còn sót lại - Iskenaz, Eskenaz và Ashanaz - nằm ở phía đông bắc Thổ Nhĩ Kỳ đã tạo thành một phần của quê hương của dân tộc Ashkenazi nguyên thủy và thành lập một sự phát triển bùng nổ của ngôn ngữ Do Thái hiện đại là tiếng Yiddish.

Chúng tôi xác định được 367 người khẳng định họ có hai cha mẹ là người Do Thái Ashkenazi và chúng tôi chia nhóm ra thành những người mà cha mẹ họ chỉ nói tiếng Yiddish và những nhóm người khác ", Eran Elhaik, trưởng nhóm nghiên cứu, nói với Wired.

Ba ngôi làng này đều bắt nguồn từ danh từ "Ashkenaz", là gốc rễ của danh từ "Ashkenazi". Elhaik nói với Wired rằng phía đông bắc Thổ Nhĩ Kỳ là nơi duy nhất có bốn tên địa danh này tồn tại

Các học giả trước đây đã xác định được tiếng Yiddish theo nguyên bản ngôn ngữ Đức hoặc Slavic, nhưng Elhaik và những người khác tin rằng tiếng Yiddish đã được phát triển trong thế kỷ 8 và thế kỷ 9 công nguyên, bởi các thương gia Do Thái kinh doanh dọc theo con đường tơ lụa nổi tiếng nối liền giữa Trung Quốc và châu Âu.

Elhaik lưu ý rằng kết quả này thiệt là "đáng ngạc nhiên" vì khu vực này không có một "lịch sử phong phú của người Do Thái".

Chúng tôi kết luận rằng AJs [ người Do Thái Ashkenazic ] có thể bắt nguồn từ thiên niên kỷ đầu tiên khi người Do Thái Ba Tư Iran đã Do Thái Hóa người Hy Lạp-Romanian, người Thổ, người Ba Tư Iran, người miền Nam Caucasus và người Slavic cư ngụ ở vùng đất Ashkenaz ở Thổ Nhĩ Kỳ ", nghiên cứu mới nhất vừa được công bố trong tạp chí Genome Biology.

Những phát hiện của chúng tôi cho thấy rằng tiếng Yiddish được tạo ra bởi các thương gia người Do Thái Slav-Ba Tư Iran đang chạy theo con đường tơ lụa nằm giữa nước Đức, Bắc Phi và Trung Hoa.

Cuộc tranh cãi về nguồn gốc sắc tộc của người Do Thái Ashkenazi đã bị các nhà chủ nghĩa dân tộc Do Thái, Palestine và những người bài Do Thái tất cả họ phản kháng dữ dội, tất cả đều cho rằng việc giải quyết vấn đề này sẽ ảnh hưởng đến tuyên bố của người Do Thái đối với mảnh đất Israel hiện đại.

Lý thuyết cho thấy những người Do Thái Ashkenazi hiện đại là những người đã cải đạo đến từ vương quốc Khazaria cổ đại ở Trung Á và do đó người Do Thái hiện đại không có liên kết gì về mặt gen di truyền tổ tiên với vương quốc Judea trong Kinh Thánh và mười hai chi tộc Israel - đã được một số người theo chủ nghĩa chống Zionist làm công cụ và cái cớ và lý do để phủ nhận những tuyên bố của người Do thái đối với lịch sử vùng đất Palestine.

Tuy nhiên, các nghiên cứu khác đã cho thấy mối liên hệ gene di truyền chia sẻ chung tổ tiên giữa người Do Thái Ashkenazi và các dân tộc Trung Đông khác, bao gồm cả người Palestine.

Những người hàng xóm gần gũi nhất về mặt gien di truyền đối với các nhóm người Do Thái là người Palestine, người Bedouins ở Israel, và người Druze ngoài ra còn có những người Nam Âu, bao gồm cả người Cypriots

Theo Harry Ostrer, giáo sư về khoa nhi và khoa bệnh lý học tại Đại học Y khoa Albert Einstein ở Bronx, New York và Karl Skorecki, giám đốc phát triển y khoa và nghiên cứu tại Rambam Health Care Campus ở Haifa trong tạp chí Human Genetics vào tháng 10 năm 2012.

Nguồn middleeasteye.net/news/most-jews-descended-ancient-turkey-new-study-2107639949
ChimEnMuaDong is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 27-10-17, 01:09   #33
ChimEnMuaDong
Thành viên
 
ChimEnMuaDong's Avatar
 
Tham gia ngày: Nov 2012
Bài gửi: 18
Thanks: 2
Thanked 1 Time in 1 Post
Ngó Mỹ, dòm Nhật, hóng Do Thái: sự lựa chọn nào cho ta?

Sự trì trệ kinh tế trong năm năm qua đã làm tổn hại nặng nề tới lòng tự tin của người Việt. Cái hào hứng, hồ hởi, phấn khởi, thậm chí đắc thắng của thời kỳ 2007-08 đã nhường chỗ cho trạng thái u ám, bi quan, bực bội và cáu bẳn, dai dẳng từ 2010 và ngày càng loang rộng. Một mặt, người ta đổ lỗi cho cái thể chế nói riêng và “cái nước mình” nói chung, như trong câu “Cái nước mình nó thế!”, bảo bối được nhà văn hóa Hoàng Ngọc Hiến trao tặng giới trí thức để họ cùng với ông thể hiện một cách tài tình thái độ buông xuôi của mình mà không ai có thể trách cứ được. Mặt khác, người ta đổ lỗi cho những người xung quanh. Cộng đồng người Việt hiện ra trên báo chí và mạng xã hội như một tập thể lười biếng, ngày ngày chỉ lượn từ quán trà chanh sang hàng bia hơi, sau đó thì hoặc là đi bắt trộm chó, hoặc là gia nhập đám đông đánh trộm chó một cách phấn khích man rợ, và chỉ dừng lại khi thấy một xe tải chở bia bị đổ ra đường. Văn hóa thì “xuống cấp”, và đạo đức đã hoàn toàn “băng hoại”. Với não trạng này, khá dễ hiểu khi thấy người Việt hướng tới một số dân tộc khác như những ngọn hải đăng trên biển cả mịt mù, mong tìm ra được một cuốn cẩm nang hướng dẫn tỉ mỉ phải sống như thế nào.

Ba dân tộc được nhắc tới nhiều nhất, với lòng thành kính, ngưỡng mộ và khâm phục, là Mỹ, Nhật và Do Thái.

Từ trái sang phải là người Mỹ người Nhật Bản và người Do Thái

Không ngày nào trôi qua mà không gặp một bài báo, một trạng thái trên Facebook ca ngợi sự ưu việt của những nền văn hóa kia, và những căn dặn tỉ mỉ để noi theo chúng. Người ta chuyền tay nhau các bài viết chê cười tủ rượu của người Việt, và ngợi khen tủ sách của người Do Thái,

Gia đình người Do Thái uống rượu

và còn cho biết thêm phụ huynh Do Thái “xây dựng thói quen đọc sách cho trẻ nhỏ từ khi còn trong nôi”, và “để sách hấp dẫn trẻ, họ thường nhỏ nước hoa lên sách để tạo mùi hương cho các em chú ý” (tôi tự hỏi bước tiếp theo sẽ là rắc nước hoa vào bát bột để trẻ hết biếng ăn?)

Người Do Thái chét mật ong chứ không nhỏ nước hoa

Người Do Thái nhỏ mật ong chứ không phải nhỏ nước hoa

Người Do Thái cho trẻ liếm sự ngọt ngào của ong mật

Một loạt các bài báo khác cũng khá được ưa thích chỉ ra sự khác nhau trong hành xử ở phòng chờ sân bay giữa người phương Tây ưu tú và người Việt ít học. Chúng khiển trách người Việt không thể rời mắt khỏi màn hình điện thoại, trong khi đó, “người phương Tây dành thời gian để trò chuyện, ăn nhẹ và quan sát xung quanh”. Thật tao nhã, chỉ “ăn nhẹ” thôi nhé, để không bị phân tâm khi quan sát vũ trụ kỳ diệu đang hiện hữu ngay ở sảnh B. Tiếp theo, một bức ảnh chụp một phụ nữ phương Tây đứng tuổi đang ngồi xổm có dòng chú thích “Một phụ nữ tóc vàng đọc sách dù đang phải ngồi chờ trong tình trạng bất tiện.”

Ngoài chuyện đọc sách, giáo dục trẻ con là cái mà người Việt luôn tầm sư học đạo. Tình hình rối như canh hẹ. Lúc thì người ta khuyên nhau nên nuôi con thành nhẫn nại, khiêm nhường “như người Nhật”. Lúc khác thì lại phải biến chúng thành quyết đoán, phá cách “như người Mỹ”. Buổi sáng thì tới khóa học “Bí quyết nuôi con thông minh của người Do Thái

”, buổi tối lại nghiền ngẫm triết lý được cho là của Nhật rằng “trẻ em không cần phải quá thông minh; thông minh, học giỏi không hẳn là một điều tốt.” Những nỗ lực này làm ta liên tưởng tới một đại gia đình thường xuyên ca cẩm về sự suy tàn của dòng họ mình, và cử những đứa con ra ngoài thám thính các gia đình thành công trong phố. “Họ dậy rất sớm để tập thể dục, sau đó ăn nhẹ và quan sát xung quanh,” một đứa trở về và tuyên bố. Đứa khác lại cho biết: “Họ làm việc thâu đêm bên máy tính, đó là bí quyết thành công của họ.” Điều mà đại gia đình này thiếu là niềm tin vào các giá trị của bản thân, và khả năng phân tích, đánh giá và phán xét thế giới xung quanh để không mù quáng chạy theo người khác. Việc chạy theo các công thức kiểu “nhỏ nước hoa vào sách để dụ trẻ con đọc”, về bản chất cũng giống phong trào uống nước tiểu của bản thân để chữa bách bệnh, vốn cực kỳ thịnh hành ở Việt Nam vào các thập kỷ trước. Bút ký Niệu liệu pháp của nhà văn Nguyễn Quang Lập đã tái hiện lại phong trào này một cách rất hóm hỉnh và bắt đầu như sau: “Sáng đó không biết có việc gì mình sang Hội (Văn nghệ) sớm, thấy chú Khuyến phó chủ tịch hội, đứng đái ở hàng rào. Ông cầm cái ca, đái vào đấy, đầy ca thì bưng vào, trông điệu bộ kính cẩn ca nước đái lắm.” Sự khâm phục và ngưỡng mộ phương Tây và Nhật Bản gần như vô điều kiện này đạt tới đỉnh điểm qua phát ngôn của nhà văn Nguyễn Quang Thiều trong một bài báo ngày 1/1/2015 nhan đề Điều gì cần cho Việt Nam lúc này? trên Vietnamnet: “Ở nước ngoài, họ có thể chăm chút cả đám mây bay trên bầu trời.” Không cần biết “nước ngoài” cụ thể là ở đâu, không, ta không có nhu cầu biết, “nước ngoài” lấp lánh và mê hoặc. Nó là tất cả những gì không phải là chúng ta. “Nước ngoài” có tất cả những cái chúng ta không có nhưng khao khát, một cuộc sống cực lạc, viên mãn, những triền cỏ non và cây cối ra hoa kết trái, trẻ em ngoan ngoãn và thông minh, thanh niên nở nang và thân thiện, người già nhân hậu và độ lượng, và những đám mây, đặc biệt là những đám mây, chúng được chăm chút tỉ mỉ hằng sáng trước khi được thả ra bầu trời để đón bình minh. Nhưng, có lẽ “nước ngoài” cũng không phải là một miền đất hứa êm đềm, đầy mật ngọt trên mặt đất và tiếng chuông lục lạc vang trong không trung, như người ta vẫn hình dung? Và cư dân của nó cũng là những người trần mắt thịt, cũng luẩn quẩn trong tham, sân, si, cũng vô minh và bối rối trong cuộc sống? Ví dụ ư? Có ai biết là theo điều tra của Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ năm qua thì một phần tư dân số Mỹ cho rằng mặt trời quay xung quanh trái đất. Có ai biết là trong năm 2013, 28% người Mỹ không đọc bất cứ một cuốn sách nào, và số lượng người Mỹ không đọc sách, theo The Atlantic, đã tăng gấp 3 kể từ 1978. Tôi đồ rằng nhóm người này không quá cảnh ở Nội Bài để được chụp ảnh trong phòng chờ. Vẫn nói chuyện về sách, có ai biết là 1/3 doanh thu của thị trường sách cho người lớn ở Nhật tới từ truyện tranh. Trong hình dung lãng mạn của người Việt, người Nhật ngồi ở tàu điện ngầm chăm chú đọc Khởi nghiệp của Fukuzawa. Thực tế trần trụi là họ nghiền ngẫm manga, chỉ cần nhìn khách Nhật trong các quán sushi ở Hà Nội thì biết. Nhà văn Murakami tin rằng chỉ 5% dân số Nhật thực sự yêu quý sách.

Còn về người Do Thái, thật đáng tiếc là phải làm sứt mẻ huyền thoại “quốc gia khởi nghiệp”, nhưng Israel đang có vấn đề lớn với cộng đồng quốc tế bởi những gì họ làm với người Palestine. Một cuộc điều tra của BBC vào tháng Năm 2014 cho thấy Israel, Bắc Triều Tiên, Pakistan và Iran là bốn nước có hình ảnh tệ nhất trong con mắt thế giới. Sự ác cảm tới từ cả hai phía. Năm 2010, 77% người Israel cho rằng bất kể họ làm gì thế giới cũng sẽ phê phán họ. Nêu ra những chuyện bên trên không phải để chúng ta trở nên kiêu ngạo, cho rằng “họ cũng không hơn gì ta”, hay “người Việt được thế là tốt lắm rồi”, hay “dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”, thậm chí miệt thị “Tây ngố”, như các du học sinh Đông Âu thập kỷ 70-80 của thế kỷ trước vẫn làm trong khi ăn học ở nước họ. Khao khát học hỏi từ những văn hóa khác là một việc tốt và cần thiết. Nhưng thái độ tôn sùng nước ngoài của chúng ta hiện nay đang ẩn chứa nhiều vấn đề. Nó thực ra đang cản trở việc học hành của chúng ta, đóng mắt chúng ta lại, thay vì mở ra.

Sùng bái Mỹ, Nhật và Do Thái trước hết hàm ý ngầm một thái độ phân biệt chủng tộc và kỳ thị. “Anh từ châu Phi tới ư,” chúng ta thầm nói với bản thân khi đứng trước một người da màu, “nước các anh cũng nghèo, các anh cũng vứt rác ra đường và bấm còi inh ỏi? Vậy các anh không có gì để chúng tôi học cả.” Thái độ này khiến chúng ta bỏ qua những kho báu của nhân loại. Thật đáng tiếc cho những ai vì nhìn thấy 500 triệu người Ấn Độ hiện vẫn thích ra ngoài đồng hơn là ngồi trong toa lét, mà cho rằng nền văn hóa Ấn Độ không có gì để dạy họ. Bao nhiêu người trong chúng ta biết rằng Lebanon, một đất nước mà ta không biết gì về nó, đã đóng góp cho thế giới nhà thơ thiên tài Khalil Gibran, tác giả được đọc nhiều nhất trên thế giới chỉ sau Shakespeare, và tác phẩm Nhà tiên tri của ông cho chúng ta những suy ngẫm tuyệt vời về tình yêu, hôn nhân, niềm vui và nỗi buồn, học và dạy học, tình bạn, khoái cảm, đau đớn, cái đẹp, tôn giáo và cái chết? Tôi cho rằng chúng ta bị hút hồn bởi Mỹ, Nhật và Do Thái vì thực chất chúng ta chỉ quan tâm làm thế nào để trở nên giàu có, mặc dù chúng ta tự nhủ là muốn học để trở thành văn minh. Bởi nếu muốn học để biết phải sống như thế nào, chúng ta có thể học được nhiều lắm, từ bất cứ quốc gia hay dân tộc nào. Chúng ta có thể học từ lòng dũng cảm của những người Mẹ trên quảng trường de Mayo, Argentina, những người trong thập kỷ 70 đã thách thức chính quyền quân đội độc tài phải giải thích về sự biến mất của hàng ngàn con trai họ. Chúng ta có thể học từ những sinh viên Myanmar năm 1988, khi họ đứng lên phản đối chế độ quân chủ. Chỉ cần giảm một nửa số lượng bài báo ca ngợi cái sạch sẽ của người Nhật, cái lịch sự của người Mỹ, thay vào đó là những ví dụ trên, thì thế giới của chúng ta đã phong phú và giàu có lên biết bao nhiêu.

Ngay cả từ phương Tây, Nhật và Do Thái, chúng ta cũng tiếp tục phải học, nhưng không chỉ từ chuyện không vượt đèn đỏ hay không vứt rác ra đường vẫn hay được thường xuyên nhắc tới. Chúng ta có thể rút ra bài học vì sao hàng chục triệu người Đức, chỉ cách đây có 60 năm thôi, lại có thể mê muội đi theo một học thuyết diệt chủng và tuân thủ người cầm đầu của họ như chưa bao giờ một dân tộc tuân thủ lãnh tụ của mình như vậy. Và chúng ta có thể học từ những vất vả và đau đớn mà người Đức đã trải qua trong sáu thập kỷ qua để xây dựng nền dân chủ của mình. Khi xây dựng lại nhà Quốc hội ở Berlin bị tàn phá trong chiến tranh, sau khi thống nhất Đông và Tây Đức, người ta tìm thấy, và quyết định bảo quản các grafitti tiếng Nga của những người lính Hồng quân Liên xô trên tường. Nhà báo George Packer của The New Yorker chỉ ra rằng không một quốc gia nào khác trên thế giới trưng bày bút tích của kẻ chinh phục mình trong tòa nhà quan trọng nhất đất nước. Không học từ đấy thì học từ đâu? Trong các buổi tối của mùa hè 2014, người dân tỉnh lỵ Sderot, Israel, đem ghế nhựa và sofa lên một ngọn đồi. Họ uống soda, ăn bỏng ngô, vừa chuyện trò vui vẻ vừa cùng nhìn về chân trời. Đều đặn, khi chân trời sáng rực lên, người ta reo mừng và vỗ tay. Đó là những lúc bom và tên lửa của Israel đáp xuống dải Gaza của người Palestine. Chỉ trong vài tuần, các đợt oanh tạc này đã giết chết gần 1800 người Palestine, trong đó có hàng trăm trẻ em. Tối tối, những người dân Sderot ngắm màn mưa tên lửa như đang xem một bộ phim. Tôi tự hỏi, sự căm thù phải lớn tới mức nào để có thể làm chai sạn trái tim của những người đàn ông, đàn bà, người già Do Thái này

, và họ sống ra sao khi bên trong họ có nhiều sự thù hận tới mức họ bị mất tính người như vậy. Vì sao những con người có bề dày văn hóa đến như thế lại trở nên cơ sự này, và liệu có cơ may nào chuyển hóa được lòng hận thù độc địa ấy.

Người Do Thái có quá nhiều bài học cho chúng ta về bản chất con người, nếu như chúng ta chịu khó nhìn rộng ra ngoài “cái tủ sách rắc nước hoa” của họ. Mỗi đất nước, dân tộc, văn hóa, thậm chí mỗi cá nhân là một vũ trụ phức tạp, chứ không phải những nhân vật của một vở kịch tuyên truyền thô thiển: người này giỏi, người kia kém, trắng đen rõ ràng và bất biến. Thách thức trong quá trình học hỏi là nhận biết được sự phức tạp, những xung đột, những chấn thương, những năng lượng, những bế tắc của một quốc gia, của một nền văn hóa, dù nó là Pháp hay Campuchia. Ngược lại, càng mù quáng, tôn sùng vô điều kiện một ai đó, một cái gì đó, thì lại càng dễ thất bại. Và khi vỡ mộng, người ta lại càng vội vã tuyên bố phải “thoát” nó ngay lập tức, để chạy tới tôn thờ một cái mới. Tâm thế đó là tâm thế của những kẻ mất tự do.

Nguồn: Sách 'Bức xúc không làm ta vô can', tác giả Đặng Hoàng Giang
ChimEnMuaDong is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 04-11-17, 00:07   #34
ChimEnMuaDong
Thành viên
 
ChimEnMuaDong's Avatar
 
Tham gia ngày: Nov 2012
Bài gửi: 18
Thanks: 2
Thanked 1 Time in 1 Post
Sự hồi sinh sống lại của một ngôn ngữ đến từ cõi chết

Đã hơn 3,000 năm trải qua các trang sử Do Thái, tiếng Hebrew đã từng chìm trong một giấc ngủ dài, nhưng rồi nó lại thức tỉnh. Tại sao ngôn ngữ Hebrew lại sống dai dẳng như thế ? Ngôn ngữ ấy được hồi sinh như thế nào ? Hãy tham gia với chúng mình vào chuyến hành trình lịch sử của tiếng Do Thái nhé.

Người Israel đánh dấu Ngày ngôn ngữ Do Thái mỗi năm vào sinh nhật của Eliezer Ben Yehuda cha đẻ tiếng Hebrew hiện đại.

Sự hồi sinh của ngôn ngữ Hebrew là một câu chuyện phi thường và có một không hai trong lịch sử nhân loại. Một ngôn ngữ có gốc rễ từ 3.000 năm trở lại đây, nó đã được hồi sinh sau nhiều thế kỷ đang ngủ yên giấc, và bây giờ nó đang hưng thịnh trong thế kỷ 21.

150 năm trước, tiếng Hebrew không phải là ngôn ngữ nói. Và cũng không phải là tiếng mẹ đẻ của bất cứ ai.

Ngày nay, hơn 9 triệu người nói tiếng Hebrew, và phần lớn là tiếng mẹ đẻ của họ.

Trong suốt thiên niên kỷ khi người Do thái vong quốc sau khi ngôi đền thứ hai bị phá hủy năm 70 CE, tiếng Hebrew vẫn còn sống trong các nghi thức phụng vụ và lễ nghi tôn giáo và như là một loại ngôn ngữ lingua franca của người do thái lưu vong. Ngôn ngữ viết Hebrew tiếp tục phát triển; đó là ngôn ngữ của văn thơ và ngôn ngữ giao tiếp giữa các vị học giả, những người đã viết sách về luật pháp và triết học bằng ngôn ngữ Hebrew. Mỗi thế hệ được khuyến khích học chữ bằng tiếng Hebrew để làm quen với các văn bản gốc và các nghi thức truyền thống của Do Thái Giáo. Nhưng, trong những năm ấy, ngôn ngữ Hebrew đã không còn là một ngôn ngữ sống, thiếu đi hơi thở trong cuộc sống đời thường, lối sống thế tục của mỗi cá nhân hay đời sống dân tộc.

Hình ảnh trang bìa tạp chí của người Do Thái ở quốc gia Israel

Người đàn ông nhìn xa trông rộng: Eliezer Ben-Yehuda

Eliezer Ben Yehuda chính là động lực đằng sau sự hồi sinh của ngôn ngữ cổ đại và sự chuyển đổi của nó thành ngôn ngữ hiện đại. Nhà ngôn ngữ học có tầm nhìn này, sinh ra ở Lithuania năm 1858, đã đến Israel năm 1881 với một ước mơ biến tiếng Hebrew thành một ngôn ngữ hiện đại và làm cho nó trở thành ngôn ngữ được sử dụng trong mọi gia đình ở Israel. Ông định cư ở Giêrusalem và cống hiến cuộc đời sự nghiệp của ông để thực hiện ước mơ của mình.

Ben Yehuda đã vận động để làm cho tiếng Hebrew trở thành ngôn ngữ được giảng dạy trong các trường học Israel, mở rộng vốn từ vựng Hebrew để có thể đáp ứng được nhu cầu của xã hội Israel hiện đại, tạo ra từ điển Hebrew hiện đại đầu tiên và biên soạn tờ báo tiếng Hebrew đầu tiên. Con trai đầu lòng của ông, Itamar Ben-Avi, là đứa bé trai đầu lòng trong thời hiện đại đã lớn lên trong tiếng Hebrew là tiếng mẹ đẻ.

Ben-Yehuda tạo những từ vựng mới từ cấu trúc Hebrew cổ đại để tạo ra hơn 300 từ vựng mới cho tiếng Hebrew hiện đại. Kể từ đó, đã có thêm hơn 15.000 từ mới và chúng ta vẫn đang tính.

Hình ảnh trên bìa tạp chí của người do thái sinh sống ở đất nước Israel

Các lớp màng của tiếng Hebrew: Xem xét lịch sử ngôn ngữ tiếng Hebrew

Ngôn ngữ Hebrew và lịch sử đặc biệt của nó là chìa khóa không thể thiếu được để hiểu rõ di sản lịch sử và văn hóa Israel. Giống như người Do thái, ngôn ngữ Hebrew đã trải qua nhiều thăng trầm lịch sử do sự phá hoại đền thờ Jerusalem của người La Mã cho đến việc thành lập Nhà nước Israel vào năm 1948.

Lịch sử sôi động của tiếng Hebrew có thể được chia ra thành ngũ giai đoạn chính:

1. Ngôn ngữ Hebrew thánh thư – Hơn 3.000 năm trước, khi dân Israel lần đầu tiên đến miền Đất Thánh, tiếng Hebrew được thành lập như một ngôn ngữ dân tộc. Ngôn ngữ Hebrew vẫn được sử dụng phổ biến, ngay cả trong thời kỳ vong quốc Babylon (686-534 TCN), trong hơn 1.500 năm, cho đến khoảng năm 400 CE, do sức ép gắn nặng của sự lưu vong rải rác tản lạc khắp nơi của người Do Thái sau khi đền thờ thứ hai bị phá hủy, tiếng Hebrew không còn được sử dụng trong cuộc sống đời thường. Tiếng Hebrew thánh kinh đã sống sót qua thời gian này (và quả thực đến ngày nay) qua vai trò của nó như là ngôn ngữ của phụng vụ và trong các văn bản tôn giáo.

2. Mishnaic Hebrew – Kinh thư Mishnah, tập hợp các luật Do Thái được viết bằng tiếng Hebrew, được biên tập trong thế kỷ đệ nhị Công nguyên. Vào thời điểm này chúng ta tìm thấy từ vựng mới và các câu ca dao thành ngữ đã được thêm vào ngôn ngữ.

3. Tiếng Hebrew Trung cổ – Vào đầu thiên niên kỷ thứ nhất, đã có sự hồi sinh của tiếng Hebrew trong các cộng đồng người Do Thái trên toàn cầu khắp thế giới, với nghiên cứu ngữ pháp kèm theo sự xuất hiện của từ điển Hebrew đầu tiên. Trong thời kỳ vàng son của nền văn hoá Do thái ở Tây Ban Nha, văn thơ Do Thái được viết bởi các nhà thơ Do Thái có năng khiếu đã làm giàu thêm cho tiếng Hebrew hơn. Chính tại thời điểm đó tiếng Hebrew lại một lần nữa bắt đầu lan ra ngoài các lĩnh vực truyền thống là phụng vụ và học hành kinh sách tôn giáo.

4. Tiếng Hebrew Phục Hưng – Trong thế kỷ 15 và 16, sự phát triển công nghệ in ấn đã đóng góp cho tiếng Hê-bơ-rơ; ấn phẩm in ấn bằng ngôn ngữ Hê-bơ-rơ đầu tiên ở vùng đất thánh được thành lập ở Safed năm 1577.

Trong thời kỳ này và sau đó, nhiều học giả châu Âu đã cố gắng thiết lập tiếng Hebrew là “mẹ đẻ của tất cả các ngôn ngữ”. Họ đã từng tin rằng tiếng Hebrew là ngôn ngữ nguồn gốc mà từ đó phát triển ra tất cả các ngôn ngữ khác.

5. Tiếng Hebrew hiện đại – Vào thế kỷ 19, tiếng Hebrew đã trải qua một sự hồi sinh chưa từng thấy. Đây là thời gian của những nỗ lực và thành tựu của Eliezer Ben Yehuda. Nhiều tác giả và nhà thơ đã tham gia chiến dịch của ông và những nỗ lực của họ đã giúp mở ra một kỷ nguyên về sức sống và sự sáng tạo ngôn ngữ phong phú. Tiếng Hebrew đã trở thành ngôn ngữ chính thức của Quốc gia Israel vào năm 1948.

Kể từ ấy, khi đất nước Israel nuốt chửng hàng triệu người nhập cư và phải đối phó với vô số những thách thức trong việc xây dựng một nhà nước hiện đại, và gần đây hơn, với ảnh hưởng toàn cầu hoá và những thay đổi công nghệ to lớn, tiếng Hebrew hiện đại đã trở thành một ngôn ngữ năng động với từ vựng hơn 75.000 từ ngữ. Ngôn ngữ Hebrew bao gồm hơn 2.400 từ mới để thay thế cho các từ vựng của ngôn ngữ nước ngoài và các thuật ngữ gần đây mà ngôn ngữ cổ xưa chưa bao giờ có.

Ngôn ngữ cổ đại, kỷ nguyên mới

Sự hồi sinh của tiếng Hebrew thành một ngôn ngữ nói là một phần của năng lượng sáng tạo đã luôn luôn mô tả câu chuyện của tổ quốc Israel hiện đại. Ngôn ngữ Hebrew là một biểu hiện phong phú và hấp dẫn đầy sức sống của người dân Israel, đồng thời cũng là một mối liên kết sâu sắc giữa Kinh thánh và sự trẻ trung hóa ngày nay của người Do Thái ở quê hương cổ xưa của họ. Đây là câu chuyện về sự hồi sinh văn hoá quốc gia chưa từng có ở bất cứ nơi đâu. Và việc thực hiện một tầm nhìn chiến lược mà đối với một vài thế hệ trước có vẻ như là một giấc mơ điên rồ và bất khả thi.
Bảng chữ cái tiếng Hebrew của người Do Thái dựa trên ngôi sao David hay tấm khiên David, Bảng chữ cái ngôn ngữ Hebrew

+ YouTube Video
ERROR: If you can see this, then YouTube is down or you don't have Flash installed.


Nguồn https://vanhoacuanguoidothai.wordpre...7/11/03/hebrew
ChimEnMuaDong is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 15-11-17, 12:01   #35
ChimEnMuaDong
Thành viên
 
ChimEnMuaDong's Avatar
 
Tham gia ngày: Nov 2012
Bài gửi: 18
Thanks: 2
Thanked 1 Time in 1 Post
Người Hoa Singapore Thông Minh Nhất Thế Giới

Dân tộc thông minh nhất nhân loại ( xin lỗi người do thái, không phải là bạn )

Với chỉ số thông minh IQ trung bình cao chót vót của người do thái lên tới 110 (chuẩn mực của người da trắng) và mức độ xuất hiện các nhân tài đáng kinh ngạc của người do thái trong số các tỷ phú và xuất hiện trên mặt truyền thông, tôi luôn coi những người Do Thái là nhóm dân tộc thông minh nhất trên trái đất. Nhưng gần đây tôi đã phát hiện ra rằng người Trung Quốc Singapore đã đánh bại người do thái, với chỉ số trí tuệ IQ trung bình đáng kinh ngạc của người Singapore Trung Hoa là 114.


Điều này có thể giúp giải thích tại sao Singapore được gọi là thành phố vĩ đại nhất thế giới với kiến trúc ngoạn mục.


Mặc dù người do thái có những thành tựu đáng kinh ngạc về tài chính và ngành kỹ nghệ phương tiện truyền thông đại chúng ở nước Mỹ Hoa Kỳ, điều đó có nghĩa là người Trung Hoa Singapore sẽ thông minh hơn người do thái, bởi vì sau tất cả các thành tựu mà người Do Thái đã nỗ lực cố gắng gây dựng nên, nhưng cuối cùng thì người do thái vẫn thuộc chủng tộc Caucasoids, và yếu tố này đã tạo ra giới hạn về trí thông minh di truyền của người do thái.

Mặc dù đã sản sinh ra nhiều nhân tài với trí thông minh vượt trội với tỷ lệ cao hơn trong cộng đồng người do thái Ashkenazi, cuối cùng thì người do thái cũng chỉ đạt được ngưỡng cao nhất của trí thông minh gen di truyền, giống như những con ngựa chạy đua phát huy hết tốc độ gien di truyền của nó vào năm 1970, nhưng không có bất cứ con ngựa nào mà có thể vượt qua được tốc độ nhanh nhẹn của giống ngựa Secretariat (theo lời nhận xét của Mugabe).

Con ngựa thì chỉ chạy nhanh nhất khả năng mà nó có thể , và một người thuộc chủng Caucasoid cũng chỉ có thể đạt được trí thông minh như vậy (mức trung bình) trước khi các căn bệnh di truyền và tác dụng phụ gây hiểm họa lớn bộc phát.

Để vượt qua những giới hạn này, bạn cần có một sự thay đổi lại nền tảng gene di truyền. Một đột biến lớn để thay đổi, biến con ngựa thành một con báo, biến một người Caucasoid thành một người Mongoloid.

Theo học giả J.P. Rushton, người Mongoloid đã tách ra khỏi chủng người Caucasoids cách đây hàng chục ngàn năm trước trong một hình dạng mới và được cải tiến.

Một lý thuyết khả thi, Rushton nói là, sự tiến hóa đang tiếp diễn, và một số quần thể của loài người thì tiên tiến hơn những nhóm người khác.


Mọi thứ đang trở nên tốt hơn theo thời gian. Chủng tộc người Mongoloids là phiên bản cuối cùng của nhân loại. Chủng tộc Mongoloid là phiên bản Mới nhất và cũng là phiên bản cuối cùng qua nhiều giai đoạn lâu dài sửa đổi. Là chiến thắng cuối cùng của nhiều thử nghiệm gian nan và nhiều sai lầm. Để diễn tả câu nói của Martin Luther King, vòm cung của sự tiến hóa là dài, nhưng uốn cong theo hướng hoàn hảo.


Nhìn chung, các nhóm dân tộc Mongoloid có chỉ số thông minh từ IQ 86 (Người Mỹ thổ dân da đỏ bản địa) đến chỉ số IQ thông minh là 114 (người Singapore Trung Quốc) cho thấy chỉ số IQ trí tuệ trung bình toàn cầu của người Mongoloid khoảng là 100.

Trong khi đó, các nhóm dân tộc Caucasoid có chỉ số thông minh dao động từ IQ 68 (người di gan) đến chỉ số trí khôn IQ 110 ( Người Mỹ gốc Do Thái ), cho thấy chỉ số IQ trí khôn trung bình toàn cầu của người Caucasoid là khoảng 89.

Nguồn pumpkinperson.com/2016/07/16/worlds-smartest-ethnic-group-sorry-jews-not-you
ChimEnMuaDong is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 16-11-17, 09:15   #36
ChimEnMuaDong
Thành viên
 
ChimEnMuaDong's Avatar
 
Tham gia ngày: Nov 2012
Bài gửi: 18
Thanks: 2
Thanked 1 Time in 1 Post
Các anh em dân tộc thiểu số Do Thái

Các anh em dân tộc thiểu số của người Do Thái

Người Do Thái không phải là một dân tộc thống nhất nhưng là một dân tộc có nhiều sắc tộc khác nhau. Mỗi sắc tộc Do Thái mang một nền văn hóa, truyền thống, và bản sắc dân tộc cũng rất khác nhau. Ngày nay, các biểu hiện của những khác biệt này giữa các sắc tộc người Do Thái có thể được quan sát thấy trong các biểu hiện văn hóa ở trong mỗi cộng đồng Do Thái, bao gồm sự đa dạng ngôn ngữ mà người Do Thái nói, sở thích ăn uống, các phong tục nghi lễ tôn giáo, các giải thích giáo lý Do Thái Giáo, và nguồn gốc gien di truyền.

Đa số người Do Thái thường chọn một trong hai nhóm sắc tộc chính của người Do Thái là người do thái Ashkenazi và người do thái Sephardi. Ashkenazi có nghĩa là người Đức (Ashkenazim số nhiều và Ashkenazi số ít) và trong tiếng Hebrew thì Ashkenaz có nghĩa là nước Đức, tên gọi Ashkenazim ám chỉ nguồn gốc thổ nhưỡng và bản sắc văn hóa Đức Do Thái.

Trong khi đó thì tên gọi Sephardim ám chỉ nguồn gốc thổ nhưỡng từ vùng bán đảo Iberia và bản sắc văn hóa Tây Ban Nha Bồ Đào Nha Do Thái. Danh từ Sephardim còn được áp dụng cho những người do thái Mizrahi ở Israel. Mizrahim nghĩa là người Do Thái phương Đông ám chỉ nhóm người Do Thái gốc Trung Đông và Bắc Phi. Vì lý do phong tục tập quán tín ngưỡng nên người do thái Mizrahi được gộp chung trong nhóm sắc tộc Sephardim mặc dù người do thái Sephardi và người do thái Mizrahi là hai sắc tộc khác biệt.

Ngoài hai nhóm sắc tộc Do Thái chính kia, thì còn có những nhóm sắc tộc Do Thái thiểu số khác như là các nhóm Ấn Độ Do Thái bao gồm Bene Israel, Bnei Menashe, Cochin Do Thái, và Bene Ephraim. Người Romaniotes của Hy Lạp; người Do thái Ý (“Italkim” hoặc “Bené Roma”); Teimanim từ Yemen; những nhóm người Do Thái Châu Phi khác nhau, trong đó có nhiều nhất là Beta Israel của Ethiopia; và người Trung Hoa Do Thái, nổi bật nhất là người Khai Phong Do Thái, cũng như các cộng đồng khác biệt nhưng bây giờ gần như tuyệt chủng.

Người Do Thái Sephardi



Sephardi có nghĩa là Tây Ban Nha hay Hispanic có nguồn gốc từ danh từ Sepharad là một địa danh trong Kinh Thánh. Người do thái Sephardi là những người Do Thái thuộc dòng dõi của những người Do Thái đã từng sống ở Bán đảo Iberia vào cuối thế kỷ 15. Vì lý do tôn giáo người Do Thái Sephardi phải di cư rời khỏi Tây Ban Nha vào năm 1492. Con cháu hậu duệ dòng dõi của những người Do Thái này cho dù có sinh ra ở bất cứ nơi đâu vẫn được gọi là người Do Thái Sephardi. Mặc dù những người Do thái này được trục xuất rời khỏi Bán đảo Iberia, những người Do Thái này lưu vong tìm những nơi trú ẩn mới như Maghreb, Ai Cập, Ý, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Syria, Đất Thánh, Hà Lan, và Tân Thế Giới.

Người Do Thái Sephardi nói ngôn ngữ Ladino hay tiếng Do thái Tây Ban Nha, những người Do Thái Sephardi có phong tục tập quán và văn hóa truyền thống và nghi thức tôn giáo Do Thái riêng của họ.

Người Do Thái Mizrahi



Người do thái Mizrahi hay còn gọi là người do thái phương Đông là những người do thái có nguồn gốc từ những cộng đồng người Do thái ở vùng Trung Đông từ thời kỳ thánh kinh cho đến đương đại. Họ là hậu duệ của những người Do Thái Babylon, và các bộ tộc người do thái vùng thượng mà ngày nay bao gồm những quốc gia như Iraq, Syria, Bahrain, Kuwait, Dagestan, Azerbaijan, Iran, Uzbekistan, Caucasus, Kurdistan, Afghanistan, Ấn Độ và Pakistan.

Trước khi hồi sinh quốc gia Israel hiện nay, thì người Do Thái Mizrahi không xác định bản thân họ là một nhóm Do Thái riêng biệt. Thay vào đó, người Do Thái Mizrahi thường coi chính bản thân họ là Sephardi, vì họ theo phong tục truyền thống tôn giáo của Do thái giáo Sephardi.

Một nghiên cứu do Cục Thống kê Trung ương Israel (ICBS) tiến hành, những người Do Thái Mizrahi ít có khả năng theo học đại học hơn so với người Do Thái Ashkenazi. Những người Do Thái Ashkenazi sinh ra ở Israel có khả năng theo học đại học cao gấp hai lần so với người Do Thái Mizrahi ở Israel. Hơn nữa, tỷ lệ người Do Thái Mizrahi theo đuổi sự nghiệp học vấn tại đại học vẫn còn rất thấp so với các nhóm di dân thế hệ thứ hai có nguồn gốc từ người Do Thái Ashkenazi, chẳng hạn như người Nga. Theo một cuộc khảo sát của Trung tâm Adva, thu nhập trung bình của người Do Thái Ashkenazi cao hơn 36% so với thu nhập trung bình của người Do Thái Mizrahi năm 2004.

Người Do Thái Ashkenazi



Người Ashkenazi Do Thái chiếm phần lớn đa số dân số người Do Thái hiện đại, với ít nhất 70% người Do Thái trên toàn thế giới (và lên đến 90% trước Chiến tranh thế giới II và Holocaust). Do sự di cư của họ từ châu Âu, Ashkenazim cũng đại diện cho phần lớn người Do Thái ở các lục địa Thế giới Mới, ở các quốc gia như Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Á Căn Đình, Úc và Brasil. Hiện nay thì cộng đồng người Do Thái ở nước Mỹ Huê Kỳ chủ yếu là Người Ashkenazi Do Thái chiếm 90% tổng dân số người Do Thái ở nước Hoa Kỳ Mỹ. Ở xứ Phú Lãng Sa, sự nhập cư của người Do Thái từ Algeria (Người Do Thái Sephardi) đã dẫn họ vượt qua người Do Thái Ashkenazi.

Tại Hoa Kỳ thì người Ashkenazi Do Thái chỉ chiếm khoảng 2% dân số Hoa Kỳ bao gồm người gốc Ashkenazi Do Thái cả cha và mẹ. 27% người Mỹ đoạt giải Nobel trong thế kỷ 20 là người Ashkenazi Do Thái, 25% người chiến thắng Huy chương Fields và 25% người chiến thắng giải ACM Giải Turing cũng là người Ashkenazi Do Thái.

Tại Israel thì người Do Thái gốc Ashkenazi chiếm khoảng 47,5% tổng dân số người Do Thái ở Israel (và do đó người Do Thái gốc Ashkenazi chiếm 35-36% tổng dân số người Israel). Người Do Thái Ashkenazi đã đóng một vai trò rất lớn và nổi bật trong nền kinh tế, truyền thông và chính trị của quốc gia Israel kể từ khi đất nước Israel hiện đại từ trong giai đoạn trứng nước cho đến khi được thành lập. Các đời tổng thống Israel từ khi quốc gia này được thành lập năm 1948 cho đến hiện này đều là người Ashkenazi Do Thái.

Chỉ số trí thông minh IQ trung bình của người Ashkenazi Do Thái đã được tính toán là 112-115 (Cochran et al.) Nguồn https://vanhoacuanguoidothai.wordpre...7/11/16/group/



Theo Wikipedia Việt Nam
ChimEnMuaDong is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời

Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Chuyển đến


vB 3.8.7 Copyright © 2000 - 2017, Jelsoft Enterprises Ltd.